Monday, February 18, 2019

Qua mùng.. Chuyện trà lá - Hồng Hải PBC72


Ở đây, ngoài chợ bán đủ mọi loại trà. Chợ Mỹ thì trà Lipton, trà xanh, trà hoa hồng, trà táo, trà xoài, trà dâm bụt...đóng hộp đủ kiểu. Chợ Việt nam, chợ Korea thì trà tràn lan. Trà Tàu, trà Thái, có loại trà trị bịnh .. táo bón, trà diet, trà thanh nhiệt? có chỗ quảng cáo uống trà chừng một tuần, đang mập thành ốm, công hiệu thần sầu.
Với tôi, trà chỉ là nước uống làm từ đọt trà, trà khi nhấp một ngụm phải nghe được mùi thơm, mùi chát ngọt của lá trà. Nó cũng như cà phê chỉ có công dụng duy nhất là thứ nước uống mang lại cảm giác sảng khoái khi thưởng thức nó . Còn trà uống chữa bịnh như thiên hạ quảng cáo ? Tôi nghĩ trong đó có rất nhiều những chất đáng ngờ không kiểm chứng được, uống vào chỉ hại cho sức khoẻ, như cô em dâu tôi có lần mua hộp trà “thảo dược diet”? Về uống bị Tào tháo rượt chạy mấy ngày sợ quá, vứt luôn.

Lũ chúng tôi, đứa nào cũng ghiền trà, cũng từ ba của tôi. Ông uống trà thay nước và chỗ ba tôi ngồi lúc nào cũng bình trà còn ấm. Ông không uống trà nguội. Ông cưng nhất là đứa nào hàng ngày trong nhà lo châm bình trà nước cho ông.
Cũng bởi ghiền trà như vậy nên, qua Mỹ bao nhiêu năm là bấy nhiêu lần cô em tôi ở Việt nam cứ lo thăm chừng, canh có ai về Việt nam để gửi trà qua cho tôi.
Cái sở thích này cũng làm khổ cô em tôi không ít. Vì tôi chỉ uống được loại trà do chính em tôi ướp.
Trà ngon phải hái loại một búp hai
lá ( em gọi là một tôm hai tép ). Mỗi đợt hái từ bảy đến mười ngày. Sau đợt một, trở lại thu hoạch đợt hai thì trà non cũng vừa nở lá.
Trà luộc hay xào đều là green tea, loại chúng ta thường uống.
Trà tươi đem về nhà máy sơ chế, sau khi luộc hoặc xào, trà được đưa đi ép bớt nước rồi đem lên cối vò. Lúc nầy cánh trà sẽ xoăn lại, nổi mao trắng li ti rất đẹp mắt, mà chúng ta hay gọi là trà bạch mao.
Trà đen (black tea), cách làm khác trà xanh. Trà tươi, thay vì luộc hoặc xào, họ cho vào hệ thống quạt làm héo, sau đó đem vò, sàng lại rồi ủ cho lên men.
Trà Olong, lấy giống từ Đài Loan, cách chế biến khác trà xanh hay trà đen nên khi ra thành phẩm cánh trà cuộn tròn như hột nút áo.
Trà Olong là loại trà xanh được coi là cao cấp, rất mắc tiền. Nhưng lạt lẽo, hương vị không đậm đà, dân làm trà chuyên nghiệp như cô em tôi ở Bảo Lộc chê không thèm uống. Nhưng người tiêu thụ thường choá mắt, không tiếc bỏ tiền mua vì bao hộp đẹp đẽ, và những dòng chữ quảng cáo thần kỳ trên đó, cộng với ý nghĩ rằng càng mắc tiền thì càng ngon. Mà thực chất thua xa một bao trà ướp hoa Lài hoặc Sói hình thức khiêm tốn của những hãng trà Việt Nam như trà Như Trang hoặc Đỗ Hữu ở Bảo Lộc.

Trà sau khi vò được đem ướp hương. Hương liệu ướp trà được nhập từ Pháp, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Singapo, Trung quốc ..Nhưng tại thị trường Việt nam, hương liệu nhập từ Tàu không được ưa chuộng vì phẩm chất không bảo đảm, nếu không nói là độc hại.
Vậy trà xanh và trà đen chỉ khác nhau cách luộc, xào hoặc quạt.
Sau khi mua trà đem về xào sơ chế, tức là loại một búp hai lá, em bắt tay vào giai đoạn tẩm ướp.
Đầu tiên, em lặt cọng, lặt lá và sàng sẩy những cấn, vảy trà. Hoa Sói hoặc hoa Lài, em chọn mua loại búp hoa to được nắng(thì cánh hoa mới trắng và thơm) rồi trải trên cái nia mỏng, canh chừng khi cánh hoa mở hé toả hương thơm, em trộn vào trà đã sàng lọc sạch sẽ rồi đem sấy khô.
Trà sấy vừa khô, để được nửa năm vẫn còn mùi thơm, gọi là sấy vừa.
Trà sấy kỹ, để qua năm nhưng vẫn còn thơm gọi là sấy kiệt, tức là sấy không còn độ ẩm.
Trà em gửi cho tôi là trà sấy kiệt, vì tôi để dành uống cả năm mà hương hoa Lài vẫn thơm lừng.
Trà đặc biệt cho tôi, em ướp nửa ký hoa Lài cho một ký trà. Mèn ơi, hỏi sao trà thơm ngát và hỏi sao tôi lại mắc bịnh ghiền ?
Em nói, sở dĩ trà ngoài chợ rẻ mà khi pha hoặc uống nóng (kể cả nguội), mùi thơm bốc ngào ngạt là dùng nguyên liệu từ hoá chất.
Em chỉ ướp trà với hoa tươi khi có người đặt hàng vì giá mắc hơn trà ướp hoá chất khoảng năm, sáu lần.

Pha bình trà nóng vào buổi sáng và buổi chiều.. nghĩ đến dáng em ngồi lui cui nhặt từng cọng lá già, canh từng búp hoa nở hé, rồi ướp, sấy, rồi lễ mễ đóng thùng để gửi.
Những cánh trà mang tấm lòng của em gửi đến tôi vượt hơn nửa vòng trái đất.
Nghĩ mà thương em không kể xiết.
( Hồng Hải)

Saturday, February 2, 2019

Quà Xuân của Nguyễn Thị Thiết PBC72 đến bạn Nguyễn Thị Phương Thảo PBC72

Quà Xuân 2019 của Nguyễn Thị Thiết PBC72 /Canada gửi đến bạn Nguyễn Thị Phương Thảo PBC72-Phan Thiết Bình Thuận $100.00 USD.

Wednesday, January 9, 2019

Hình ngày xưa PBC72

 HN2008 Washington D.C.


 Hồng Thúy, Thiết, Chị Dung, Kim Dân

Hồng Thúy và Kim Dân 

Monday, April 23, 2018

Nhớ về tháng tư

 Tượng Bàn Tay Hy Vọng (Hand Of Hope)
Trên xa lộ xuôi Nam, một sáng nắng vàng, trời trong xanh, cây cối đang vào mùa Xuân xanh ngăn ngắt, những thảm hoa rực rỡ muôn màu trải dài theo triền dốc, gió biển mát lạnh, làm nhớ lại căn nhà cũ ở phố biển, có bàn học ngay cửa sổ nhìn ra cửa sông mà một thời con gái, ngồi học mà hồn thả theo những đợt sóng nhấp nhô ...
  Xe rẽ trái vào con đường V. , rồi rẽ trái cứ thế đi, về lại chốn cũ mà bốn mươi ba năm trước đã đến, đã dừng lại... rồi lại ra đi đến định cư tiểu bang rất xa mà ngày trước còn ỏ quê nhà chẳng nghe nhắc tới . Hai bên đường đồi núi chập chùng xanh ngắt một mầu xen lẫn những thảm hoa vàng nơi thảo nguyên xa xôi nào đó, như những hình trong sách báo, phim ảnh đọc và xem được đâu đó. Đi một quãng đường ngắn thôi. 

 Đồi Thánh Giá nhìn về trại 4,5 và 8
 Ồ ! Đồi thánh giá đây rồi, những ngày còn trong trại, mỗi buổi chiều về, lúc đó còn là người mẹ rất trẻ, bế đứa con thơ vài tháng tuổi, leo dốc lên đồi, nhìn về hướng biển xa xa, mờ mịt chân mây, nhớ về quê nhà, nhớ giảng đường, nhớ bạn bè,  nhớ và nhớ... và lo tương lai  mờ mịt trước mặt, chẳng nghĩ có ngày về, “nước mất , nhà tan“ mà lòng đau nhói. Nhìn đồi núi bat ngàn, cố định hướng trại mình ngày xưa, những dãy lều san sát, ngày nắng nóng điên người, đêm về lạnh giá, đồi núi của những tháng hè, nắng nóng chỉ thấy cây cối trơ trụi, chung quanh tứ bề chỉ còn màu xám đục. Tựa mình vào thân cây Thánh giá, nhìn xuống trại đông đúc người và người, giờ đây hoang vắng, chỉ còn những cành hoa vàng đong đưa trong gió, chỗ kia là trại 8, xa tít trong góc kia là trại 4 ... cứ thế đi loanh quanh tìm theo lối mòn ngày cũ, nhắc bao nhiêu kỷ niệm của những ngày đầu tiên đặt chân trên xứ người: buồn đau, uất hận, nhớ nhung... lo lắng cho ngày mai bất định. Cứ thế đi, như mê mải, như đắm chìm trong đau thương ngày cũ ...Bức tượng bàn tay “Hand of Hope“  thật sống động, cho hy vọng một ngày mai tươi sáng, lòng người tử tế vô bờ... Ngồi ăn trưa ngay cafeteria, nhớ lại ly mì, đã ngồi ăn chỗ cũ, sao ngày ấy ngon quá chừng... Ngồi trên cao, nhìn đồi núi chập chùng yên ắng, không cả tiếng chim kêu chỉ nghe tiếng gió rít lạnh về chiều, buồn chi lạ ... đất nước đã trải qua một thời dâu bể và vẫn tang thương... Nhìn xuống đồi toàn là lau sậy ngút ngàn, nhớ lại hai câu thơ “những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ “. Bốn mươi ba năm không quá dài, vết thương theo thời gian cũng đã lành, nhưng cứ đến tháng Tư mỗi năm, nỗi đau lại trở về, nhức nhối khôn nguôi. 
ST 
Đường vào trại Tỵ Nạn Camp Pendleton ngày nay
Đồi Thánh Giá là một trong những điểm Lịch Sử của Hoa Kỳ

 Chân đồi thánh giá là điểm lịch sử của Hoa Kỳ 
Đồi Thánh Giá


  Đường vào trại 4.5 và 8
Cafeteria sau 43 năm vẫn còn đây

 Khu Barrack trại Tỵ Nạn San Onofre

Khu trại 8 ngày xưa


 Bàn tay hy vọng Hand Of Hope

 Trại 8 và nhà máy đèn ngày nay



Anh Nam Lộc




 


Thiếu Tá William Mimiaga, tháng 5 năm 1975 cùng các Quân Nhân TQLC đã dựng lều cho người Tỵ Nạn Việt Nam tại Camp Pendleton



Anh Nam Lộc trên Đồi Thánh Giá

  Đồi Thánh Giá Ngày Nay